“Ba Mũi Giáp Công” Trong Đường Lối Đấu Tranh Của Đảng Giai Đoạn 1965 - 1975 Là Gì?

Share:
*

Đại thắng mùa Xuân 1975 đã kết thúc vẻ vang cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, thống nhất Tổ quốc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta; chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên đất nước ta; mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH trên phạm vi cả nước. Để đi đến thắng lợi này, trước hết nhờ có vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành chiến tranh của Đảng - yếu tố then chốt quyết định trong tiến trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Bạn đang đọc: “ba mũi giáp công” trong đường lối đấu tranh của đảng giai đoạn 1965 - 1975 là gì?


40 năm trôi qua kể từ khi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đánh dấu thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Đánh giá về sự kiện lịch sử trọng đại này, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV (12-1976) khẳng định: “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta”(1); mà “trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng”(2). Đó là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng ở hai miền: cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng XHCN ở miền Bắc, nhằm mục tiêu chung là hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là mốc son chói lọi, niềm tự hào của quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng; là tài sản vô giá của dân tộc, để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau những bài học quý báu trên nhiều phương diện. Bài học quyết định, mang tính tổng hợp, đó là đỉnh cao về tư duy lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Trong đó, trực tiếp là đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng được hình thành trên cơ sở Chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh cách mạng, tổ chức và xây dựng quân đội cách mạng kết hợp với truyền thống nghệ thuật quân sự của dân tộc, được vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể Việt Nam.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là thành quả của cả dân tộc trên con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Để đi đến thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cần phải có một đánh giá khoa học, tổng quan về từng giai đoạn, thời kỳ của cuộc chiến tranh. Và chỉ có như vậy chúng ta mới thấy hết được vai trò, tầm vóc lớn lao của Đảng ta - người cầm lái vĩ đại, đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

1. Đánh giá đúng tình hình, xác định rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đồng khởi, đấu tranh chống chế độ tay sai tàn ác Ngô Đình Diệm, làm phá sản chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam (1954-1960).

Bình tĩnh, sáng suốt trước các diễn biến tình hình, với tư duy khoa học, biện chứng và cách mạng, Đảng ta nhận định: Sự tàn ác của Mỹ và tay sai ở miền Nam đã gây nên nhiều oán hận trong nhân dân, vì thế, dù có quân đông, có nhiều súng đạn, nhưng chính trị của chúng lại rất yếu mà yếu nhất là ở nông thôn. Đảng ta xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào Đồng Khởi nổ ra và nhanh chóng phát triển thành cao trào, nhân dân các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ đã đứng lên khởi nghĩa và giành thắng lợi. Phong trào lan rộng khắp các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Hệ thống chính quyền Ngô Đình Diệm bị tan rã từng mảng lớn. Các lực lượng du kích, các đội quân vũ trang cách mạng nhanh chóng phát triển, vừa đấu tranh trực tiếp với địch vừa bảo vệ dân, xây dựng các vùng căn cứ vững chắc. Phong trào Đồng Khởi đã đưa cách mạng miền Nam vượt qua thử thách, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công địch, tạo ra cục diện chiến lược mới trên chiến trường. Chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam trên thực tế đã bị phá sản bởi chính quyền tay sai do Mỹ dựng lên đã lung lay tới tận gốc rễ.

2. Đảng lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân cả nước tiến hành đấu tranh vũ trang trực diện, giữ vững và phát triển thế tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ-ngụy (1961-1965).

Xem thêm: Cách Làm Mềm Lông Vùng Kín Nhanh, Đơn Giản, Cực Quyến Rũ, 7 Cách Làm Mềm Lông Vùng Kín Sau Khi Cạo Ý Tưởng

Từ cuối năm 1960, nhận thấy việc sử dụng chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm liên tiếp bị thất bại, để đối phó với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng miền Nam, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Đây là chiến lược đầu tiên trong ba loại hình chiến tranh trong chiến lược quân sự toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của Mỹ. Lực lượng quân sự Mỹ ở miền Nam tăng đột biến, các vũ khí trang bị (kể cả loại hiện đại nhất) được đưa vào miền Nam. Các đơn vị thiện chiến nhất của Mỹ đã có mặt tại miền Trung Việt Nam như Sư đoàn không vận số 1, lực lượng thuỷ quân đánh bộ của Hạm đội 7, mở các chiến dịch càn quét quy mô lớn và cường độ ác liệt với chiến thuật trực thăng vận, hành quân tìm diệt và ném bom hủy diệt.

Không bất ngờ với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chuyển cách mạng miền Nam sang giai đoạn mới. Từ phong trào Đồng Khởi, giải phóng từng phần phát triển thành cuộc chiến tranh cách mạng quy mô toàn miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân miền Nam vừa đấu tranh, vừa chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang với sự chi viện hiệu quả từ miền Bắc. Nhiều trung đoàn chủ lực miền Nam được thành lập, các căn cứ cách mạng được mở rộng, du kích ở các địa phương liên tục mở các trận đánh quy mô nhỏ vào lực lượng địch, đánh phá các căn cứ quân sự như sân bay, kho tàng, bến cảng, cùng với nhân dân phá hệ thống ấp chiến lược của địch. Các trận đối đầu giữa bộ đội ta với quân chủ lực Mỹ được tiến hành với quy mô từ nhỏ tới lớn và liên tiếp giành thắng lợi trên các chiến trường. Điển hình là trận ấp Bắc (1-1963), chiến dịch Bình Giã (từ 12-1964 đến 1-1965), Ba Gia, Đồng Xoài (từ 5-1965 đến 7-1965). Cục diện chiến tranh đã nhanh chóng chuyển sang bước ngoặt mới. Thế và lực của ta trên chiến trường có sự thay đổi quan trọng, đó là thế tiến công toàn diện, trực diện với sức mạnh mới do sự phát triển của các đơn vị chủ lực được trang bị tốt và huấn luyện chính quy, hệ thống căn cứ cách mạng được mở rộng khắp các địa bàn, hệ thống cơ sở cách mạng tại các đô thị được củng cố vững chắc. Trong khi đó, lực lượng viễn chinh Mỹ liên tiếp bị thiệt hại và nguy cơ sa lầy vào cuộc chiến không lối thoát đã cận kề, người dân Mỹ mất dần lòng tin vào chính quyền, vào cuộc chiến vô nghĩa mà Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam; nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn là không thể tránh khỏi.

Nhằm ngăn chặn sự phát triển lực lượng vũ trang miền Nam, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc và để cứu vãn sự thất bại trên chiến trường, Mỹ đã dùng không quân, hải quân ném bom, bắn phá miền Bắc, các tuyến vận tải chiến lược của ta ở Đông và Tây Trường Sơn. Nhưng bất chấp bom đạn, hàng hóa tiếp viện cho miền Nam không hề ngừng chảy; các đơn vị chủ lực của ta ở miền Nam luôn có đủ vũ khí để giáng cho quân Mỹ, nguỵ những đòn đau và thiệt hại to lớn về quân số. Tại các Hội nghị Trung ương 11 (3-1965) và 12 (12-1965) Đảng ta khẳng định, “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã phá sản, sự thất bại của Mỹ là không tránh khỏi và hạ quyết tâm động viên lực lượng cả nước giữ vững chiến lược tấn công, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

3. Đảng lãnh đạo quân, dân cả nước phát huy sức mạnh tổng hợp đánh thắng kẻ thù xâm lược; cách mạng miền Nam đồng thời đấu tranh trên các mặt trận, kết hợp tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công để giành thắng lợi quyết định (1966-1973).

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, Đảng ta đã động viên và phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Đó là, sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc vừa chiến đấu, xây dựng, vừa chi viện sức người, sức của cho miền Nam, kết hợp với sức mạnh của đồng bào, chiến sĩ miền Nam trực tiếp trên tuyến đầu đánh Mỹ. Để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, Đảng ta đã kiên định và vận dụng sáng tạo quan điểm: con đường cách mạng miền Nam phải là con đường cách mạng bạo lực, với hai lực lượng cơ bản là lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận, trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; kết hợp chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, đánh địch trên mọi quy mô: đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ của lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích); thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ. Quán triệt, nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công và phương châm chiến lược đánh lâu dài, nhưng đồng thời biết tạo thời cơ, tranh thủ thời cơ mở những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972) làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta.

Đường lối lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành chiến tranh của Đảng đã khiến cho quân Mỹ phải gánh chịu những thiệt hại to lớn. Chính phủ Mỹ buộc phải ngồi vào bàn thương lượng tại Hội nghị Pa-ri và cam kết rút quân khỏi miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào nổi dậy mạnh mẽ, đông đảo của quần chúng từ nông thôn đến thành thị, với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt đã tạo thuận lợi cho bộ đội chủ lực mở các trận đánh với quy mô chiến dịch, liên tục giành thắng lợi. Có thể nói, đây là giai đoạn khó khăn, gian khổ và khốc liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhưng với bản lĩnh và kinh nghiệm, với những sáng tạo không ngừng trong vận dụng quy luật chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân, toàn dân vượt qua khó khăn, tạo nên thế và lực mới chuẩn bị cho thời điểm quyết định, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ.

4. Với chiến lược tiến công, tạo thế và lực, tạo thời cơ, Đảng lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1973-1975).

Sau Hiệp định Pa-ri, mặc dù buộc phải rút quân, nhưng Mỹ âm mưu củng cố ngụy quân, ngụy quyền, tăng cường viện trợ tiền của, vũ khí, phương tiện chiến tranh, thực hiện các hoạt động ngoại giao xảo quyệt để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng miền Nam. Đến tháng 5-1973, xu thế chống phá Hiệp định Pa-ri của địch ngày càng tăng nhằm xóa bỏ vùng giải phóng của ta. Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (7-1973) khẳng định con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực và đề ra các nhiệm vụ lớn cho hai miền Nam - Bắc. Nửa cuối năm 1974, cuộc chiến tranh của quân và dân miền Nam chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã giành được thắng lợi. Nước Mỹ lâm vào khủng hoảng nội bộ. Tháng 7-1974, Trung ương Đảng chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu QĐND Việt Nam xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, nếu thời cơ đến sẽ giải phóng miền Nam trong năm 1975.

40 năm đã trôi qua, nhưng ký ức hào hùng và niềm tự hào về thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vẫn vẹn nguyên trong mỗi chúng ta. Nó đang và sẽ mãi là động lực tinh thần to lớn để chúng ta kiên định, vững bước trên con đường mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và nhân dân ta đã chọn; tiếp tục công cuộc đổi mới, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; ra sức phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

-----

(1), (2) ĐCSVN, Văn kiện Đảng toàn tập, NXB CTQG, H.2004, tập 37, tr.472 và 484.

Bài viết liên quan